Lịch sử thăng trầm của ngành công nghiệp xe đạp 3

Lịch sử thăng trầm của ngành công nghiệp xe đạp

Nếu giai đoạn từ năm 1949 đến năm 1966 được gọi là “Thời kỳ xuân thu” của ngành công nghiệp xe đạp Trung Quốc, thì từ năm 1966 đến đầu những năm 1980 có thể được gọi là “Thời kỳ chiến tranh” của ngành công nghiệp xe đạp Trung Quốc. Trong các bài viết trước (có liên kết ở cuối bài viết), về cơ bản những điều được viết đều là các bá vương của “Thời kỳ xuân thu”, như: Nhà máy xe đạp Thượng Hải, Ba nhà máy xe đạp Thượng Hải, Nhà máy xe đạp Thiên Tân, Hai nhà máy xe đạp Thiên Tân (Nhà máy xe đạp Hồng Kỳ Thiên Tân), cũng như Nhà máy Xe đạp Thẩm Dương và Nhà máy Xe đạp Thanh Đảo.

Lịch sử thăng trầm của ngành công nghiệp xe đạp . Tại sao lại có thể hình thành cục diện độc quyền bá vương như vậy? Một mặt là do chính sách và cơ chế thể chế của nhà nước (lý do khách quan), mặt khác là do những hạn chế về trình độ công nghệ và kỹ thuật sản xuất chế tạo (lý do chủ quan).

Trên thực tế, trước năm 1966, nhà máy sản xuất xe đạp đã được thành lập ở nhiều nơi, nghiên cứu chế tạo cả chiếc xe đạp phát triển tích cực, nhưng đó không phải là thất bại, chính là do chi phí sản xuất cao, nên cuối cùng đã ngừng hoạt động.

Sau năm 1966, nhu cầu về xe đạp ngày càng tăng, nhiều nơi lại một lần nữa khơi dậy giấc mơ chế tạo xe, khiến các nhà máy xe đạp mọc lên như nấm, đặc biệt là vào đầu những năm 1980, nhu cầu thị trường bùng nổ, một số doanh nghiệp quân sự và các nhà máy sản xuất máy móc địa phương đều lần lượt chạy theo sản xuất xe đạp, thậm chí là trực tiếp chuyển đổi sang sản xuất xe đạp.

Nhưng thời gian tốt đẹp không dài, chỉ trong hai hoặc ba năm, nhiều nhà máy xe đạp đã gặp rắc rối do tồn đọng sản phẩm.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến hệ thống xe đạp chia sẻ hiện nay. Ban đầu nó là một mô hình kinh tế mới nổi rất tốt, nhưng vì tính trục lợi vốn điên cuồng, cuối cùng nó đã khiến một ngành công nghiệp mới nổi rơi vào tình trạng khó khăn sau khi điên loạn. Nhìn lại lịch sử chưa đi xa, trên thực tế, chúng có quá nhiều điểm tương đồng, nhưng thật không may, rất ít người học được bài học từ lịch sử.

Hôm nay nội dung ngoài lề hơi nhiều một chút, tiếp theo chúng ta quay trở lại chủ đề chính, tiếp tục sơ lược các tiểu đại chư hầu của “thời kỳ chiến tranh”.

  1. Nhà máy xe đạp Thường Châu

Việc thành lập nhà máy xe đạp Thường Châu, giống như nhiều nhà máy xe đạp, bắt đầu từ sự ngưỡng mộ. Thấy rằng nhiều nơi có thể sản xuất xe đạp, Thường Châu vẫn không có thành tích nào. Không so sánh những nơi xa mà chỉ so sánh những nơi gần, như Vô Tích, Nam Thông, Nam Kinh, thậm chí Côn Sơn và Đan Dương đều bắt đầu sản xuất xe đạp.

Lịch sử thăng trầm của ngành công nghiệp xe đạp 2

Nguồn gốc ra đời của xe đạp

Năm 1973, Cục Công nghiệp nhẹ Thường Châu đã thành lập văn phòng hội chiến xe đạp và bàn giao nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất xe đạp cho Nhà máy Sắt In ấn Thường Châu. Vào tháng 6 năm đó, 20 chiếc xe đạp 28 inch đã được sản xuất thử nghiệm, về tên gọi, nó cũng bị vướng víu, chẳng hạn như đề xuất các tên như là “Yu Tu”, “Jin Long”, “Xiong Shi” và cuối cùng là Phó Giám đốc Cục Công nghiệp nhẹ Shen Ming Yuan đề xuất tên gọi là “Sư tử vàng” và được mọi người công nhận.

Phòng Thiết kế công nghệ mỹ thuạt của Nhà máy In Nhân dân thành phố Thường Châu đã thiết kế thế hệ thương hiệu đầu tiên cho dòng sản phẩm “Sư tử vàng” – một con sư tử nhỏ hướng mặt ra phía trước, khuôn mặt thể hiện uy thế mạnh mẽ.

Năm 1974, trưng dụng một trang trại bên lề đường vườn hoa Hua Ji Miao ở ngoại ô phía tây Thường Châu, bắt đầu khởi công xây dựng một nhà máy sản xuất xe đạp mới, tháng 9 cùng năm đó, nhà máy đã sản xuất lô 25 chiếc xe đạp nhẹ 26 inch đầu tiên. Năm 1976, Nhà máy in sắt Thường Châu sáp nhập với nhà máy mạ điện, chính thức thành lập Nhà máy Xe đạp Thường Châu, cùng năm đó, 8383 chiếc xe đạp “Sư tử vàng” đã được sản xuất.

Tháng 4 năm 1979, dựa trên cơ sở nhà máy xe đạp Thường Châu, Nhà máy tổng hợp xe đạp Thường Châu được thành lập, quy mô sản xuất mở rộng hơn nữa. Cùng năm đó, 60.300 chiếc xe đạp thương hiệu “Sư tử vàng” đã được sản xuất. Tháng 4 năm 1981, Nhà máy Tổng hợp Xe đạp Thường Châu và Tập đoàn Xây dựng Cơ sở Hàng hóa Xuất khẩu Trung Quốc của Bộ Ngoại thương đã hợp tác, đặt tên là Nhà máy Tổng hợp Xe đạp Thường Châu trong liên doanh công nghiệp và thương mại, giới thiệu số lượng lớn thiết bị sản xuất tiên tiến quốc tế, năng lực sản xuất được mở rộng hơn nữa.

Khi nhiều nhà máy xe đạp địa phương dần lâm vào cảnh khó khăn, nhà máy xe đạp Thường Châu bất ngờ xuất hiện và đẩy sản phẩm ra thị trường quốc tế, trở thành một công ty thu nhập ngoại hối lớn. Cảnh quan này đã tiếp tục cho đến năm 1995. Kể từ năm 1996, công ty đã chịu tổn thất lớn trong ba năm liên tiếp, với tổng trị giá hơn 140 triệu nhân dân tệ. Trực tiếp dẫn đến sự phá sản và tổ chức lại của Tập đoàn Sư Tử Vàng vào năm 1999.

Sau khi Tập đoàn Sư tử vàng phá sản, quyền thương hiệu của thương hiệu Sư tử vàng đã được chuyển cho Công ty TNHH Công nghiệp Jin Run Thường Châu thuộc sở hữu nhà nước ngày nay, thương hiệu Sư tử vàng được giao cho doanh nghiệp tư nhân Công ty TNHH công nghiệp xe Sư tử vàng cao cấp mới Giang Tô quản lý và sử dụng, hơn nữa được sử dụng rộng rãi trong xe điện. Tôi không tìm thấy các sản phẩm xe đạp thương hiệu Sư tử vàng trong trung tâm sản phẩm trên các trang mạng, có vẻ như chiếc xe đạp Sư tử vàng thực sự phải trở thành lịch sử.

Thứ hai, nhà máy xe đạp E Mei Thành Đô

Từ thời điểm xây dựng, nhà máy xe đạp Thành Đô nên ngược dòng từ năm 1958, bởi vì nhà máy xe đạp Thành Đô được thành lập vào thời điểm đó, nhưng nó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Khi Thành Đô một lần nữa nghĩ đến việc chế tạo xe đạp, đã là những năm 1970.

Tháng 1 năm 1956, hơn 100 cửa hàng sửa chữa xe đạp tập thể và cá nhân (nhóm) được thành lập tại Thành Đô và Quận Tây Thành, lần lượt thành lập Hợp tác xã Sửa chữa Xe đạp Thành Đô Một và Hai, mỗi tổ chức có hơn 100 nhân viên.

Tháng 3 năm 1958, Hợp tác xã một đổi tên thành Nhà máy sản xuất xe đạp Thành Đô, sản xuất chiếc xe phẳng thông thường 28 inch thương hiệu E Mei. Hợp tác xã hai được đổi tên thành Nhà máy xe đạp Tiên Phong, sản xuất xe phẳng thông thường 28 inch thương hiệu Thành Đô.

Tháng 12, Ủy ban Nhân dân Thành phố đã quyết định sáp nhập Nhà máy Sản xuất Xe đạp Thành Đô và Nhà máy Xe đạp Tiên phong thành Nhà máy Xe đạp Thành Đô, thuộc thẩm quyền của Phòng Công nghiệp Quận Tây Thành, sản xuất xe đạp Thành Đô.

Thời gian vỏn vẹn chỉ có 3 năm, năm 1962, trong sự điều chỉnh kinh tế quốc gia, nhà máy xe đạp Thành Đô đã bị đóng cửa do chất lượng kém và hiệu quả kém, đây là cục diện cuối cùng của “bước nhảy vọt lớn”.

Năm 1970, để lấp đầy lỗ hổng trong ngành công nghiệp xe đạp ở Tứ Xuyên, Ủy ban Cách mạng tỉnh đã hỗ trợ xây dựng một nhà máy xe đạp thuộc sở hữu nhà nước ở Thành Đô. Trong năm đó, công ty đã sản xuất 70 chiếc xe đạp 28 inch mới của thương hiệu xe đạp “Xin Rong”.

Năm 1973, Bộ Công nghiệp nhẹ đã phê duyệt việc xây dựng nhà máy xe đạp ở Thành Đô, nhưng mãi đến năm 1980, nhà máy xe đạp mới bắt đầu sản xuất xe đạp trong một nhà máy chưa hoàn thành. Do đó, để đảm bảo nguồn cung ứng, xưởng sản xuất nhỏ thành lập vào năm 1970, tiếp tục kiên trì sản xuất. Mặc dù chất lượng thấp, chi phí cao và thua lỗ liên tiếp trong nhiều năm, nhưng đến năm 1980, nhà máy xe đạp mới E Mei mới chính thức đi vào sản xuất.

Năm 1981, Chính quyền thành phố Thành Đô đã phê duyệt thành lập Công ty TNHH Công nghiệp Xe đạp Thành Đô với công suất hàng năm là 300.000 xe đạp, thực hiện mô hình quản lý một công ty, hai thương hiệu của nhà máy xe đạp E Mei. Mặc dù ngành công nghiệp xe đạp ở Thành Đô có một tham vọng lớn, nhưng công ty công nghiệp xe đạp đã chịu lỗ trong bốn năm liên tiếp từ khi thành lập đến năm 1984, và chỉ đến năm 1985, nó mới miễn cưỡng có chút lợi nhuận.

Lịch sử thăng trầm của ngành công nghiệp xe đạp 1

Giá trị của những chiếc xe đạp

Tuy nhiên, cùng năm đó, theo tinh thần thu hồi công ty hành chính của chính quyền trung ương, Công ty Công nghiệp Xe đạp Thành Đô đã bị hủy bỏ, nhà máy xe đạp E Mei hoạt động đơn lẻ một mình. Tuy nhiên, tại thời điểm này, thị trường xe đạp Trung Quốc thay đổi đột ngột, nhiều nhà sản xuất xe đạp rơi vào tình trạng thua lỗ.

Để tồn tại, trong cùng năm đó, nhà máy xe đạp E Mei và Nhà máy xe đạp Thiên Tân đã ký thỏa thuận hợp tác sản xuất xe đạp thương hiệu “Fei Ge”, thương hiệu này là chi nhánh Thành Đô nhà máy xe đạp Thiên Tân. Đồng thời, sản xuất xe đạp thương hiệu “Fei Ge” và “E Mei”. Lần liên doanh này cho phép Nhà máy Xe đạp Thành Đô (hay Chi nhánh Thành Đô Nhà máy Xe đạp Thiên Tân) bước vào thời gian đỉnh cao ngắn ngủi (1987-1988).

Thứ ba, nhà máy xe đạp thành phố Tây An

Năm 1955, 6 hộ gia đình gồm 12 thợ thủ công đã tự nguyện thành lập Nhóm hợp tác sửa chữa xe huyện Liên Hồ – thành phố Tây An, sau đó đổi tên thành Hợp tác xã sửa chữa công cụ giao thông công nông số 7 của Tây An.

Năm 1958, hợp tác xã được chuyển thành doanh nghiệp nhà nước, đổi tên thành Nhà máy sản xuất máy công nghiệp nhẹ Tây An. Do ngành kinh doanh chính của nhà máy là sửa chữa, sản xuất xe đạp và các phương tiện giao thông khác. Năm 1960, Bộ Công nghiệp nhẹ đã cấp “giấy phép hợp pháp” cho việc sản xuất xe đạp, tháng 4 cùng năm đó, nhà máy đã sản xuất chiếc xe đạp 28 inch đầu tiên mang thương hiệu “Vệ Tinh”.

Hình trên cho thấy logo Yan He của hai thời kỳ khác nhau, ai sử dụng nó đầu tiên, tôi không tìm thấy bất kỳ thông tin nào có thể được chứng thực. Thương hiệu xe bên dưới có dòng chữ “Nhà máy xe đạp Tây An”, nếu tham khảo tài liệu lịch sử nên là nhãn hiệu xe trước năm 1979.

Năm 1961, Nhà máy sản xuất máy móc công nghiệp nhẹ Tây An chính thức đổi tên thành Nhà máy sản xuất xe đạp Tây An, nhưng sản lượng hàng năm rất hạn chế. Theo thống kê, trước năm 1970, sản lượng hàng năm của nhà máy về cơ bản là từ hai đến ba trăm chiếc, so sánh với nhà máy xe đạp khác, nên gọi là xưởng xe đạp.

Từ năm 1970, Tây An đã tổ chức ba hội nghị ngành công nghiệp xe đạp, kéo dài sáu năm và cải thiện hệ thống công nghiệp xe đạp ở Tây An.

Năm 1979, lấy Nhà máy Xe đạp Tây An làm thủ lĩnh, thành lập Tổng Nhà máy Xe đạp Tây An. Đồng thời, Nhà máy Xe đạp Tây An được đổi tên thành Nhà máy Xe đạp Tây An Thứ nhất, còn nhà máy xe Đông Phong Tây An vốn chuyên sản xuất khung xe được đổi tên thành Nhà máy Xe đạp Tây An Thứ hai (chủ yếu sản xuất trục và các linh kiện). Quy mô năng lực sản xuất 100.000 xe đạp mỗi năm đã được hình thành.

Việc sử dụng nhãn hiệu của Nhà máy Xe đạp Tây An (Nhà máy số 1) cũng đã thay đổi. Ban đầu sử dụng thương hiệu “Vệ Tinh”, năm 1962 được đổi thành thương hiệu “Đại bàng”, năm 1968 được đổi thành thương hiệu “Yan He”. Năm 1982, nhà máy đã đăng ký nhãn hiệu “Uyên Ương”, sau đó được sử dụng cùng với nhãn hiệu “Yan He”.

Vào thời điểm đó, ở vùng quê của quê hương tôi có câu nói: “Xe Vĩnh Cửu bền (mạnh), xe Bồ Câu đi nhanh, đi xe Uyên Ương là đang yêu nhau.”

Nhà máy xe đạp Tây An (Nhà máy số 1), giống như các nhà sản xuất xe đạp địa phương khác, bị kích thích bởi nhu cầu thị trường trong hai năm đầu thập niên 1980, sự tự tin của nó rất cao, nhưng trong tình trạng quản lý chất lượng không nghiêm nên sản xuất ồ ạt . Năm 1983, nhà máy sản xuất xe đạp bị thiệt hại nghiêm trọng, thậm chí trên bờ vực phá sản, đã buộc phải tạm dừng sản xuất để cải chính.

Năm 1984, với sự giúp đỡ của nhiều bên, nhà máy đã quay lại, nhưng tình hình vẫn khó khăn như cũ. Năm 1985, bắt đầu tìm kiếm sự hợp tác kỹ thuật với Nhà máy xe đạp Thượng Hải. Kể từ tháng 3 năm 1987, chính thức trở thành liên doanh của Nhà máy Xe đạp Thượng Hải, kể từ đó, nó sản xuất thương hiệu xe đạp “Vĩnh Viễn”.

Thứ tư, nhà máy xe đạp Thiểm Tây

Nhà máy xe đạp ở tỉnh Thiểm Tây là một nhà máy xe đạp với bối cảnh đặc biệt. Đầu những năm 1980, nhiều công ty quân sự đã chuyển đổi sang sản xuất xe đạp vì sự bùng nổ trong thị trường xe đạp. Nhà máy xe đạp ở tỉnh Thiểm Tây là một trong những nhà máy điển hình nhất.

Năm 1980, Cục Công nghiệp Máy móc thứ năm tỉnh Thiểm Tây, theo nguyên tắc kết hợp giữa quân đội và dân sự, kết hợp hòa bình và chiến tranh do chính quyền trung ương đề xuất, đã tận dụng những lợi thế của kỹ thuật công nghệ, thiết bị và vật liệu để tổ chức 6 doanh nghiệp công nghệ quân đội địa phương cỡ trung bình: Nhà máy Máy móc Tiên phong, Nhà máy Máy móc Tiến Lên tại huyện kì Sơn- Thiểm Tây, Nhà máy máy móc Thắng Lợi tại huyện Phù Phong – Thiểm Tây, Nhà máy máy móc Vị Nguyên ở quận Võ Công – Thiểm Tây, nhà máy máy móc Đông Phong quận Vị Nam – Thành phố Đồng Xuyên và nhà máy máy móc hóa chất Tần Đông, liên hợp tổ chức thành Nhà máy xe đạp do nhà máy máy móc Tiên Phong đảm nhiệm làm nhà máy trưởng , lấy mô hình xe đạp thương hiệu Phượng Hoàng của Nhà máy Xe đạp Thượng Hải thứ ba làm mẫu xe, sản xuất thử nghiệm xe đạp thương hiệu Yu Tu, sản xuất 2 triệu xe trong năm đó.

Tuy nhiên, thời gian tốt đẹp không kéo dài, kể từ năm 1983, thị trường xe đạp đã chứng kiến ​​tình trạng sản xuất vượt quá doanh số. Nhiều nhà sản xuất xe đạp đã liên tục thay đổi sản xuất hoặc ngừng sản xuất. Trong hoàn cảnh bất lợi lớn, nhà máy xe đạp ở tỉnh Thiểm Tây đã ngừng sản xuất xe đạp vào năm 1984, từ đó rút khỏi phong trào sôi động của các doanh nghiệp quân đội tham gia sản xuất xe đạp.